Tạp chí Khoa học Đo đạc và bản đồ: Tóm tắt số 37 (tháng 9/2018)

Cập nhật : 30/12/2018
Lượt xem: 515

CÁC ỨNG DỤNG RỘNG RÃI CỦA LÝ THUYẾTMOLODENXKII M.X TRONG TRẮC ĐỊA VẬT LÝ TRÊN THẾ GIỚI

​Hà Minh Hòa - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt

Vấn đề mấu chốt để xây dựng hệ quy chiếu không gian quốc gia là xây dựng mô hình quasigeoid độ chính xác cao. Tuy nhiên hiện nay giữa các nhà trắc địa ở Việt Nam vẫn nhầm lẫn các khái niệm về quasigeoid và geoid. Trong bài báo này, trên cơ sở nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của lý thuyết Molodenxkii M.X., chúng ta sẽ làm rõ khái niệm về độ cao chuẩn, dị thường độ cao và các xu hướng sử dụng rộng rãi lý thuyết này trên thế giới.

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TRƯỜNG VẬN TỐC CHUYỂN DỊCH KHÔNG GIAN KHU MIỀN BẮC VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI SÓNG NHỎ

Lại Văn Thủy - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Dương Chí Công - Hội Trắc địa-Bản đồ - Viễn thám Việt Nam

Tóm tắt

Vận tốc chuyển dịch tuyệt đối (chuyển dịch so với tâm của hệ tọa độ địa tâm Trái đất) tại các điểm trong mạng lưới trắc địa địa động lực đo bằng công nghệ GNSS là đại lượng biểu diễn sự dịch chuyển vỏ Trái đất khu vực nghiên cứu.Do đặc điểm hoạt động địa chất kiến tạo có những đặc thù riêng nên các đại lượn gnày còn chứa nhiều yếu tố bất thường và không tuyến tính với nhau. Bài báo này trình bày cơ sở lý thuyết phương pháp biến đổi sóng nhỏ phụcvụ tính toán nội suy trường vận tốc chuyển dịch không gian đặc trưng cho khu vực Miền Bắc Việt Nam từ kết quả xử lý dữ liệu đo GNSS 4 chu kỳ (2012-2015). Độ lớn và hướng của trường vậntốc chuyển dịch ngang khá phù hợp với xu thế chuyển dịch của Mảng Á-Âu. Còn vềtrường vận tốc chuyển dịch đứng thì ta chưa thể có được bất kỳ nhận xét gì về chuyển động nâng hạ tại khu vực nghiên cứu. Kết quả về giá trị vận tốc hạ ởphía Tây Bắc và Bắc là quá lớn (đến -3cm/năm) và chuyển dịch hạ (ở vùng núi) vànâng (ở vùng trũng phía Đông Nam) ở đây là chưa thật phù hợp. 

XÂY DỰNG MÔ HÌNH MẶT BIỂN TRUNG BÌNH VÀ MẶT BIỂN THẤP NHẤT KHU VỰC TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Khương Văn Long - Đoàn Đo đạc Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển
Lương Thanh Thạch - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trần Văn Hải - Xí nghiệp Trắc địa, Công ty TNHH MTV Trắc địa Bản đồ

Đặng Xuân Thủy - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt

Biển Đông được xác định là khu vực biển có tính chất thủy triều rất phức tạp, do vậy việc tính toán xác định các mặt chuẩn để xử lý dữ liệu đo độ sâu gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, độ cao mặt biển trung bình và mặt biển thấp nhất được tính toán dựa trên số liệu nghiệm triều với thời gian quan trắc tối thiểu 30 ngày và mỗi trạm cũng chỉ có hiệu lực trong phạm vi từ 30 đến 70 km tùy theo tính chất triều của từng khu vực biển. Bài báo trình bày kết quả xây dựng mô hình mặt biển trung bình khu vực và mặt biển thấp nhất khu vực trên vùng biển Việt Nam, làm cơ sở để quy chiếu các trị đo sâu địa hình đáy biển phục vụ xây dựng nền thông tin địa lý biển và sản xuất hải đồ bảo đảm an toàn hàng hải.

TÍNH SỐ HIỆU CHỈNH DO ẢNH HƯỞNG CỦA THÀNH PHẦN TẦNG ĐỐI LƯU KHÔ ĐẾN SỐ LIỆU ĐO CAO VỆ TINH TRÊN BIỂN ĐÔNG

Nguyễn Văn Sáng - Trường Đại học Mỏ- Địa chất
Phạm Lê Phương - Nguyễn Thanh Thủy Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt

Mục đích của bài báo là tính được số hiệu chỉnh do ảnh hưởng của thành phần tầng đối lưu khô đến số liệu đo cao vệ tinh trên Biển Đông. Công thức Saastamoinen được áp dụng để tính toán. Các tính toán thực nghiệm được thực hiện đối với số liệu vệ tinh Cryosat-2, chu kỳ 55, dựa trên 2 mô hình khí tượng NCEP và ECMWF. Các số hiệu chỉnh tính được số hiệu chỉnh trung bình được so sánh với kết quả tính toán của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA). Kết quả so sánh cho thấy, các số hiệu chỉnh tính từ hai mô hình khí tượng là phù hợp vớicác số hiệu chỉnh do ESA cung cấp. Độ chính xác của các hiệu chỉnh trung bình từ hai mô hình khí tượng được cải thiện.

KHẢO SÁT ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA CÔNG NGHỆ GNSS-RTK  TRONG MỘT SỐ DẠNG CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA CÔNG TRÌNH 

Trần Việt Tuấn -  Trường đại học Mỏ - Địa chất

Diễm Công Trang - Viện Khoa học công nghệ xây dựng

Tóm tắt

Nội dung của bài báo trình bày về kết quả nghiên cứu khảo sát độ chính xác đạt được của công nghệ GNSS-RTK khi định vị điểm đơn trong điều kiện Việt Nam. Cơ sở lý thuyết của phương pháp đo đạc khảo sát thực nghiệm, kết quả đo đạc thực nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng của công nghệ tiên tiến này trong một số dạng công tác trắc địa công trình ở Việt Nam

ỨNG DỤNG DỮ LIỆU ẢNH VỆ TINH VNREDSAT-1A XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG ĐỘ ĐỤC TRONG NƯỚC MẶT MỘT SỐ HỒ KHU VỰC HÀ NỘI

Đinh Thị Thu Hiền - Trường Đại học Điện lực

Tóm tắt

Hàm lượng độ đục là một trong những thông số quan trọng khiđánh giá chất lượng nước mặt. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy,hàm lượng độ đục có mối quan hệ chặt chẽ với phổ phản xạ xác định từ ảnh vệ tinh quang học. Bài báo này trình bày kết quả sử dụng ảnh vệ tinh quang học VNREDSat-1A nhằm xác định hàm lượng độ đục trong nước mặt một số hồ ở khu vực Hà Nội. Kết quả nhận được trong nghiên cứu có thể sử dụng phục vụ xây dựng bản đồ phân bố hàm lượng độ đục, đánh giá và giám sát chất lượng nước mặt

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG ĐO CAO BẰNG GPS-RTK TRONG ĐO SÂU ĐỊA HÌNH ĐÁY BIỂN VEN BỜ

Nguyễn Minh Thể, Nguyễn Văn Thụ - Phân viện Khoa học ĐĐ và BĐ phía Nam

Tóm tắt

Nội dung của bài báo trình bày phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển ven bờ bằng cách kết hợp công nghệ GPS (RTK), máy đo sâu hồi âm và phần mềm định vị dẫn đường. Đề xuất quy trình công nghệ đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển ven và đánh giá khả năng ứng dụng của phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển ven bờ bằng công nghệ GPS(RTK). Kết quả đo đạc thực nghiệm trên một mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000, tại vùng biển Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu bằng công nghệ RTK đã khẳng định tính ưu việt và khả năng ứng dụng của công nghệ RTK trong đo vẽ thành lập bản đồ địa hình biển ven bờ ở Việt Nam.  

NGHIÊN CỨUCẬP NHẬT ĐỘ SÂU HẢI ĐỒ BẰNG ẢNH VỆ TINH VIỄN THÁM LANDSAT-8 Ở KHU VỰC CẢNG ĐÀ NẴNG

Dương Vân Phong - Đại học Mỏ - Địa chất

Nguyễn Văn Việt - Công ty TNHH MTV TVĐ miềnTrung

Khương Văn Long - Đoàn Đo đạc biên vẽ hải đồvà nghiên cứu biển

Tóm tắt:

Hải đồ (Nautical Chart) là một công cụ quan trọng cho hàng hải. Tuy nhiên, tính chuẩn xác của hải đồ có thể bị ảnh hưởng do sự biến đổi liên tục theo các hoạt động của con người và tự nhiên. Do đó, việc sử dụng hải đồ cũ để điều hướng hàng hải có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.Mặc dù các kỹ thuật như sử dụng sóng âm (MBSE) hay sử dụng sóng laser (LiDAR) cung cấp khả năng đo đạc độ sâucó độ chính xác cao và độ phủ dày đặc, tuy nhiên các kỹ thuật này đòi hỏi sự đầu tư cao về chi phí và khó áp dụng trong vùng nước nông. Bài báo này áp dụng kỹ thuật xác định độ sâu từ ảnh vệ tinh Landsat-8 để đánh giá sự thay đổi của thông tin độ sâu của đáy biển so với hải đồ ở vịnh Đà Nẵng và quanh cảng Đà Nẵng.Các thí nghiệm được thực hiện đã cho thấy sai số của hiệu chuẩn mô hình, tính bằng mét (RMSE), khoảng 5-10% chiều sâu thực tế và có độ tương quan rất cao tới độsâu 20 m. Do đó, phương pháp này có thể dùng để đánh giá tương quan mức độ thayđổi của địa hình đáy biển từ đó có thể đưa ra những hiệu chỉnh và cập nhật hải đồ một cách kịp thời.

ĐÁNH GIÁ ĐỘ CHÍNH XÁC ĐO KHOẢNG CÁCH KHÔNG GƯƠNG CỦA MÁY TOÀN ĐẠC ĐIỆN TỬ TS-16

Lê Thị Hà - Trường Đại học Giao thông Vận tải , Phân hiệu tại TP Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Nhờ tích hợp chương trình đo laser, máy toàn đạc điện tử ngày càng được sử dụng rộng rãi bằng phương pháp đo khoảng cách không gương. Đây là phương pháp đo thuận tiện, hiệu quả đặc biệt đối với địa hình chật hẹp, khó tiếp cận. Độ chính xác đo khoảng cách không gương phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bề mặt phản xạ của vật thể đóng vai trò quan trọng. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm độ chính xác đo không gương của máy TS-16 khi đối tượng phản xạ có cấu trúc, hình dáng và chất liệu phản xạ khác nhau.