Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ : Tóm tắt số 43 ( tháng 3/ 2020 )

Cập nhật : 26/03/2020
Lượt xem: 1127

BÀN VỀ CHUYỂN ĐỘ CAO GEOID THÀNH ĐỘ CAO QUASIGEOID

HÀ MINH HÒA - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Việc nghiên cứu chuyển đổi độ cao geoid thành độ cao quasigeoid là một hướng nghiên cứu của trắc địa vật lý. Bài báo này đã trình bày các nghiên cứu lý thuyết về hướng này và trình bày một số thực nghiệm trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy độ chênh giữa độ caogeoid và  độ cao quasigeoid là khá lớn và hiện nay không đáp ứng được các yêu cầu hiện đại của việc xây dựng các mô hình geoid/quasigeoid. Điều này vói lên rằng sự phân bố vật chất giữa mặt vật lý trái đất và mặt geoid rất phức tạp, hiện nay chưa mô hình hóa được.

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN NGUỒN DỮ LIỆU ĐẦU VÀO XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU Ô NHIỄM ĐẤT

NGUYỄN PHI SƠN; NGUYỄN ĐỨC MẠNH - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

HOÀNG TUẤN MINH; NGUYỄN THỊ NINH - Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai, Tổng cục QLĐĐ

Tóm tắt:

Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu đề xuất lựa chọn các nguồn dữ liệu đầu vào phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu ô nhiễm đất. Qua nghiên cứu tổng quan về cơ sở dữ liệu ô nhiễm đất; phân tích nội dung, đặc điểm của dữ liệu đầu vào của cơ sở dữ liệu ô nhiễm đất; đánh giá hiện trạng các nguồn tư liệu hiện có và so sánh, đối chiếu các nguồn dữ liệu với yêu cầu đầu vào cho xây dựng các cơ sở dữ liệu ô nhiễm đất nhóm nghiên cứu đề xuất lựa chọn các nguồn dữ liệu và các lớp thông tin cụ thể phục vụ cho xây dựng cơ sở dữ liệu về ô nhiễm đất.

NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM KẾT HỢP MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC GOOGLE COLABORATORY VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC MÁY (MACHINE LEARNING) TRONG PHÂN LOẠI ẢNH VIỄN THÁM

PHẠM MINH HẢI - Viện Khoa học Đo đạc và Bản Đồ

NGUYỄN NGỌC QUANG - Cục Viễn thám Quốc gia

Tóm tắt:

Khi độ chính xác và mật độ dữ liệu tăng theo thời gian, khối lượng dữ liệu tăng theo cấp số nhân nên đó thực sự là nguồn dữ liệu vô cùng khổng lồ mà trong những năm gần đây có dùng thuật ngữ “Big data” để mô tả . Dữ liệu viễn thám là dữ liệu có cấu trúc phức tạp, nhiều định dạng do đó cần phải thiết kế hệ thống có kiến trúc lưu trữ loại big data viễn thám này. Bên cạnh đó, một môi trường có thể xử lý với tốc độ nhanh, khả năng ứng dụng được các phương pháp học máy để xử lí dữ liệu viễn thám cần được quan tâm nghiên cứu phát triển. Trong phạm vi bài báo này, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm tính khả dụng của môi trường Google Colaboratory phục vụ phân loại ảnh viện thám.

QUY CHIẾU TRỊ ĐO SÂU ĐỊA HÌNH ĐÁY BIỂN DỰA TRÊN CÁC MÔ HÌNH MẶT BIỂN

LƯƠNG THANH THẠCH - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

NGUYỄN AN ĐỊNH - Công ty TNHH MTV Trắc địa Bản đồ

NGUYỄN THỊ HỒNG - Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam

TRẦN VĂN HẢ -  Xí nghiệp Trắc địa, Công ty TNHH MTVTrắc địa Bản đồ

Tóm tắt:

Bài báo khoa học này trình bày phương pháp quy chiếu trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên mô hình mặt biển trung bình khu vực (MBTBKV98) và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực (MBTNKV170) được công bố trong tài liệu [6]. Kết quả đánh giá độ chính xác hiệu độ sâu được quy chiếu dựa trên mặt biển trung bình tại một trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTBKV98 khu vực biển Hải Phòng đạt 0.018 m, còn hiệu độ sâu được quy chiếu dựa trên mặt biển thấp nhất tại một trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTNKV170 đạt 0.038 m. Điều này cho thấy sử dụng các mô hình mặt biển để quy chiếu các trị đo sâu địa hình đáy biển hoàn toàn đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo quy định của ngành Đo đạc Bản đồ.

KHẢO SÁT ĐỘ CHÍNH XÁC NGUYÊN TỐ ĐỊNH HƯỚNG NGOÀI CỦA ẢNH KHI SỬ DỤNG NHIỀU TRẠM BASE

ĐÀO NGỌC LONG - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

PHẠM NGỌC SƠN - Công ty TNHH MTV Trắc địa Bản đồ

Tóm tắt:

Sử dụng dữ liệu GNSS/IMU trong quá trình bay chụp để xác định các nguyên tố định hướng ngoài của ảnh phục vụ công tác thành lập bản đồ và xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý đã được ứng dụng rộng rãi trong những năm gần đây. Công nghệ này đòi hỏi phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ: về thu dữ liệu, điều khiển máy bay, đồ hình bố trí và khoảng cách từ trạm tham chiếu mặt đất tới khu vực cần chụp ảnh. Hiện nay, hệ thống trạm Cors tại Việt nam đã được xây dựng, việc nghiên cứu sử dụng các trạm này ứng dụng trong công tác bay chụp ảnh hàng không rất có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả công tác bay chụp. Bài báo này trình bày kết quả khảo sát độ chính xác nguyên tố định hướng ngoài từ dữ liệu GNSS/IMU của máy Vexcel Ultracam XP w/a được tính từ nhiều trạm Base.

MỘT PHƯƠNG PHÁP TẠO MẶT CHO ĐỐI TƯỢNG 3D

LÊ QUANG HÙNG -  Công ty Cổ phần Công nghệ Tài nguyên Môi trường và Vật liệu

TRẦN THÙY DƯƠNG Trường Đại học Mỏ Địa chất

Tóm tắt:

Trong mặt phẳng, khái niệm vùng sử dụng để mô tả một đa giác khép kín được tạo nên từ dữ liệu ban đầu gồm các phần tử cơ sở là điểm và đoạn. Để tìm, quản lý nó người ta sử dụng bài toán tạo vùng. Bềmặt một đối tượng 3D bao gồm một tập hợp các mặt mà mỗi mặt được mô hình hóa bằng một đa giác phẳng khép kín. Các mặt này cũng tương tự như các vùng trong mặt phẳng nhưng được biểu diễn trong không gian 3D. Bài toán tạo vùng trong mặt phẳng được nghiên cứu giải quyết và được kiểm chứng bằng lý thuyết cũng như thực tiễn áp dụng để khoanh, tính diện tích thửa đất trong bản đồ địa chính. Trên cơ sở bài toán này, bài báo nghiên cứu và đề xuất một phương pháp tạo mặt để mô tả bề mặt đối tượng 3D. Bài toán này áp dụng nguyên tắc một cạnh chỉ có hai mặt liền kề; từ một cạnh biên tìm được cạnh biên tiếp theo. Bài toán sẽ phân loại các cạnh của khối 3D, sau đó chiếu chúng về mặt phẳng. Việc phân loại nhằm đơn giản bài toán không gian bằng cách biến đổi nó thành bài toán giải quyết trên mặt phẳng. Tuy nhiên, khi chiếu các cạnh về mặt phẳng, việc sắp xếp các cạnh chiếu theo thứ tự như trong không gian là vấn đề không đơn giản. Nghiên cứu này chỉ ra có thể sắp xếp được như trên khi các mặt thỏa mãn điều kiện nhất định. Bài toán tạo vùng trên mặt phẳng sẽ tạo đượccác mặt tương ứng bề mặt của đối tượng 3D trong không gian.

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CHỈ SỐ ĐỘ ẨM KHU VỰC TỈNH BẾN TRE TỪ ẢNH VỆ TINH SENTINEL-1

HOÀNG MINH HẢI - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Bộ cảm SAR trên vệ tinh Sentinel-1 là bộ cảm chủ động hoạt động trong băng tần C (từ 4 đến 8GHz) của dải quang phổ điện từ, không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết thay điều kiện ngày đêm. Thông tin thu nhận được trên ảnh, hay còn được gọi là giá trị tán xạ ngược của tín hiệu radar, có mối tương quan với giá trị độ ẩm đất. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thành lập bản đồ độ ẩm đất từ dữ liệu ảnh vệ tinh Sentinel-1. Để tính toán thực nghiệm cho việc thành lập hàm phù hợp (hồi quy) thể hiện mối quan hệ toán học giữa giá trị độ ẩm đất đo thực tế với các giá trị được chiết tách từ các điểm tương ứng trên ảnh tán xạ ngược ở phân cực VV đã được lựa chọn. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu khả năng sử dụng ảnh Sentinel-1 (băng tần C) kết hợp với dữ liệu đo độ ẩm đất ngoài thực địa (cùng hay gần thời điểm với ảnh được chụp) để xây dựng thành lập bản đồ độ ẩm đất trên khu vực tỉnh Bến Tre.

NGHIÊN CỨU TRUYỀN NHẬN DỮ LIỆU GIỮA CÁC THIẾT BỊ DI ĐỘNG VỚI HỆ THỐNG MÁY CHỦ

ĐINH BẢO NGỌC; NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN; NGUYỄN HOÀNG LONG; TRẦN THỊ HẢI VÂN; NGUYỄN THỊ HẢI YẾN - Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Tóm tắt:

Ngày nay các ứng dụng Mobile GIS ngày càng được phát triển trợ giúp cho quá trình thu thập, phân tích dữ liệu ngoài thực địa trở nên dễ dàng hơn. Trong đó, việc truyền nhận và lưu trữ dữ liệu không gian giữa các ứng dụng di động và hệ thống máy chủ là hết sức quan trọng. Trong báo cáo này sẽ giới thiệu về công nghệ và chiến lược trao đổi, lưu trữ và phân phối dữ liệu không gian giữa hệ thống server và các ứng dụng GIS trên các thiết bị di động. 

MẪU NHẬN DẠNG VÀ PHÂN LOẠI ĐỐI TƯỢNG ĐỊA LÝ BẰNG HÌNH ẢNH

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC; LÊ THỊ THU GIANG - Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

Tóm tắt:

Cơ sở dữ liệu nền địa lý ở mức chi tiết cơ bản đã được phủ kín hầu hết phạm vi toàn lãnh thổ trong đó công nghệ đo ảnh hàng không chiếm vai trò chủ đạo. Quy chuẩn về cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia cũng đã được ban hành và có hiệu lực áp dụng từ nhiều năm nay. Đã đến lúc cho thấy sự cần thiết của những bộ mẫu nhận dạng và phân loại đối tượng địa lý bằng hình ảnh được công bố để áp dụng thống nhất trong xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý trên phạm vi toàn quốc. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu xây dựng mẫu ảnh áp dụng trong thu nhận đối tượng địa lý thuộc dữ liệu giao thông, thủy văn, lớp phủ bề mặt thuộc cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia tỷ lệ 1:10.000.


XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ TRONGTÌNH HÌNH MỚI

PHẠM NGỌC THỌ; VŨ VIỆT ANH; MAI VĂN HIỆN; TRẦN TÂN VIỆT; NGÔ VĂN THỌ; TRẦN TUẤN ĐẠT; NGUYỄN ĐÌNH TUẤN - Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

Tóm tắt:

Để đáp ứng yêu cầu thi hành Luật Đo đạc và bản đồ đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2018, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Cục Đo đạc,Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam tổ chức thực hiện nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để đề xuất nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ và dự thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ sẽ được ban hành và đưa vào áp dụng trong thời gian tới.